Việc khai thác khoáng sản ở châu Phi đã gây nền hậu quả gì

giảmNguồn tài nguyên khai thác đã không được sử dụng hiệu quả để tập trung vào các chương trình phát triển, trong khi đó, nguồn lợi nhuận khổng lồ từ việc khai thác tài nguyên này bị thâu tóm bởi các nhóm lợi ích (political elites) địa phương kết nối với các doanh nghiệp quốc tế lớn (international coorporations). Một Nhà nước bị lũng đoạn với nạn tham nhũng, cấu kết phe phái, lạm dụng quyền lực (bad governance) càng làm tình hình trở nên nghiêm trọng hơn khi nguồn tài nguyên không được quản lý hiệu quả, và trở thành món mồi ngon để câu xé. Việc đa dạng chủng tộc ở châu Phi, điển hình mỗi nước có 40-80 bộ tộc, bộ lạc khác nhau, mỗi bộ tộc, bộ lạc có nền văn hoá, tiếng nói riêng, không thực sự tạo nên sự thống nhất quốc gia (national unity) và liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp, nội chiến, tranh giành quyền kiểm soát nguồn tài nguyên, hoặc vì xung đột lợi ích

Ngược dòng lịch sử một chút, sau giai đoạn thuộc địa những năm 1970s, các nước ở châu Phi có mức GDP hầu như các nước châu Á: tàn phá chiến tranh, bóc lột thực dân, Nhà nước non trẻ. Chỉ sau 30-40 năm, châu Á đã phát triển một cách vượt bậc, cách xa châu Phi, trong khi các nước châu Phi, đặc biệt sub-Sahara châu Phi vẫn “đội sổ”. Lý giải nguyên nhân, có mấy lý do chính sau:

Châu Phi “giàu”, “rất giàu”, thường được xem là lục địa giàu về nguồn tài nguyên (resource-rich continent), chiếm hơn 30% trữ lượng khoáng sản thế giới, trong đó phải kể đến vàng, kim cương, dầu mỏ, đá quý. Tanzania nổi tiếng với vàng, Congo với đồng, Nambia với Uranium, Botswana với kim cương (xem bản đồ khoáng sản châu Phi). Vậy mà gần 50% dân số châu Phi, đặc biệt tập trung ở vùng tiểu vùng Sahara châu Phi, sống dưới chuẩn nghèo thế giới (thu nhập ít hơn $1.25/ngày). Central African Republic liên tục đội sổ là quốc gia nghèo nhất thế giới, có chỉ số Phát triển con người (HDI) thấp nhất thế giới, và là quốc gia không mạnh khoẻ nhất thế giới trong nhiều năm liền.

Một, châu Phi, theo một nghĩa nào đó, đã không bắt kịp cuộc Cách mạng xanh. Các nước châu Á, với việc đầu tư phát triển nông nghiệp, giúp đảm bảo nguồn lương thực (food security), và khi nông nghiệp đảm bảo, sử dụng nguồn lao động thặng dư và vốn tập trung đầu tư công nghiệp và dịch vụ, nói cách khác, xây dựng trụ cột của nền kinh tế đất nước. Trong khi đó, điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết không cho phép các nước châu Phi, đặc biệt các nước ở vùng sub-Sahara châu Phi – ngay cận xích đạo, cùng với hạn hán, lũ lụt, thiếu kinh nghiệm trong việc làm nông (vốn quen với việc hái lượm, săn bắn), việc trồng trọt trở nên khó khăn hơn. Tư duy canh tác tiểu nông, hộ gia đình nhỏ lẹ, làm giảm khả năng canh tác, năng suất thấp mặc dù thiên nhiên khá ưu đãi, đất trù phú, thời tiết êm dịu (sub-Sahara châu Phi không nóng như mọi người vẫn nghĩ!). Lý thuyết khác cho rằng các nhà lãnh đạo châu Phi không mặn mà phát triển nông nghiệp như các kỹ thuật gia (technocrat, politician) chính trị gia châu Á. Mối quan tâm của họ là khai thác nguồn tài nguyên sẵn có hơn là phát triển nông nghiệp (rất nhiều sản phẩm nông nghiệp ở Uganda được nhập khẩu từ các nước khác, đơn cử là Trung Quốc. Việc nhập khẩu thậm chí còn rẻ hơn so với tự sản xuất làm cho các sản phẩm nội địa trở nên kém cạnh tranh).

Thứ hai, nạn tham nhũng, lạm dụng quyền lực, thiếu năng lực của cơ quan chức năng dẫn đến quản trị nguồn lực không hiệu quả. Hầu hết các nguồn thu từ việc khai thác tài nguyên (mỏ dầu, than, vàng, v..v.) đều rơi vào tay giới tay trên (political elites). Nguồn thu quốc gia không được phân phối đến các tầng lớp thấp hơn. Quá trình phân phối (trickle down process) diễn ra chậm, thậm chí không diễn ra. Trái ngược lại, đối với các nước châu Á, nhờ có chính sách phân phối nguồn thu nhập (thông qua việc đánh thuế, các chương trình phúc lợi xã hội) (redistribution policies), phần nào thành quả phát triển kinh tế đã hỗ trợ quá trình phát triển xã hội. Bộ phim Blood diamond phần nào giải thích quá trình này, khi các ông thầu kinh tế lớn, cấu kết với quan chức địa phương, không chỉ bóc lột sức lao động người dân, mà còn khai thác đến tận cùng nguồn tài nguyên phong phú của nước này. Nhìn sang các nước Bắc Âu, nhờ khả năng quản trị nguồn tài nguyên hiệu quả, tính minh bạch và giải trình cao của Chính phủ mà nguồn thu được sử dụng hiệu quả. Lý giải một chút, các nước Bắc Âu, trước Chiến tranh thế giới thứ 2, cũng là những nước phụ thuộc vào nông nghiệp, nghèo nàn, sau đó, nhờ việc bán tài nguyên phục vụ cho quá trình tái kiến thiết ở các nước châu Âu, thêm với việc không bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, và được lãnh đạo bởi các Đảng dân chủ cánh tả (tập trung vào phát triển xã hội) mà các nước Bắc Âu phát triển được như ngày nay. Trong giới Phát triển có một thuật ngữ mà các nhà chuyên môn hay dùng là Lời nguyền tài nguyên (the resource curse) nhằm mô tả các nước nào giàu nguồn tài nguyên thiên nhiên thì sẽ chịu lời nguyền phải chịu cảnh tang tóc, chiến tranh, đau thương. Điển hình các cuộc nội chiến Boko Haram ở Nigeria là một ví dụ. Tất nhiên, nó chỉ mang tính tương đối.

Thứ ba, phải kể đến ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài. Sau giai đoạn thực địa, World Bank và IMF tiếp cận Chính phủ các nước châu Phi với đề xuất các gói viện trợ tái cấu trúc (structural adjustment), đầu tư vào các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, tuy nhiên, đi kèm các điều kiện về mở cửa kinh tế thị trường, hướng tới chế độ dân chủ. Nhìn lại tính hiệu quả các chương trình này, có thể nói chương trình bị thất bại, nếu không nói là thất bại một cách thảm hại. Việc tư nhân hoá (privatization) các công ty Quốc gia với nguồn vốn lũ lượt từ các nước phương Tây, sau này, bị chỉ trích thực chất là quy trình thuộc địa mới (neo-colonialism), dẫn đến sự phá sản của đơn vị kinh tế địa phương, thất nghiệp tràn lan, và thiếu hụt đầu ra sản phẩm. Thêm nữa, cách tiếp cận của các chương trình này là từ trên đưa lệnh xuống (top-down approach) mà không từ nhu cầu thực tế của người dân (bottom-up approach) nên các chương trình này nhanh chóng thất bại. Cộng thêm đề xuất thiết lập mô hình dân chủ càng làm các nước châu Phi, vốn với đặc điểm đa bộ tộc, bộ lạc, vốn đã không gắn kết với nhau, càng trở nên phân cách. Mình ở đây một thời gian, khi một người giới thiệu, họ thường sẽ nói mình đến từ bộ tộc, bộ lạc nào, hơn là có quốc tịch Uganda. Ví dụ khác, ở Nigeria, có hơn 50 Đảng phái, đại diện cho các bộ tộc, bộ lạc khác nhau. Mặc dù chỉ có 4-5 Đảng chính đứng ra tranh cử và hoạt động năng nổ, nhưng việc chia rẻ nội bộ càng khiến cho Chính phủ tập trung tranh gìanh quyên lực hơn là đầu tư cho các chương trình phát triển dài hạn. Mặc dù không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy dạng Nhà nước (độc tài hay dân chủ) có mối liên hệ với phát triển đất nước, nhưng việc chia rẽ nội bộ và Chính trị bất ổn ảnh hưởng đến việc đầu tư và triển khai các chính sách đồng nhất.

Thuật ngữ trong giới phát triển gọi đây là “lời nguyền tài nguyên” (resource curse). Nghiên cứu của Jeffrey Sachs và Andrew Warner chỉ ra mối liên hệ giữa tài nguyên và tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào nguồn thu nhập được sử dụng như thế nào, thể chế Nhà nước, năng lực Chính phủ, giai đoạn phát triển quốc gia (early vs.late industrialisation). Nguồn tài nguyên, do đó, có thể xem là “lời nguyền” hoặc “phước ban”. Lấy ví dụ các nước Bắc Âu, nhờ việc sử dụng hiệu quả nguồn dầu mỏ và than đá, cộng với một Nhà nước minh bạch và chính sách phân phối thu nhập (do Đảng Dân chủ xã hội tiên phong), đã vực dậy các nước này từ kinh tế dựa vào nông nghiệp thành nước công nghiệp phát triển, đặc biệt từ sau thế chiến thứ 2. Nhìn vào Nigeria, một nước giàu nguồn dầu mỏ, một trong những nguyên do phát sinh nội chiến Boko Haram là tranh chấp về nguồn tài nguyên. Chính phủ và các tập đoàn đa quốc gia đòi hỏi quyền sở hữu tài nguyên (dầu mỏ) trên chính mảnh đất của người bản địa (bộ tộc, bộ lạc khác), và thực tế, người bản địa không được hưởng lợi từ việc khai thác trên. Đói nghèo, đầu tư thấp cho dịch vụ giáo dục và chăm sóc sức khoẻ, tham nhũng, khác biệt tôn giáo (đạo Hồi và Thiên chúa giáo) làm ngòi lửa cho cuộc tranh chấp. Hơn một thập kỷ, nội chiến tiếp tục tồn tại và kéo dài cho đến ngày nay.

Việc có nhiều bộ tộc, bộ lạc khiến cho việc triển khai các chính sách khó khăn hơn. Có một lý thuyết tại sao các chương trình phát triển works ở các nước khác khi có thành phần dân tộc homogenious hơn. Việc đa dạng chủng tộc khiến cho việc thiết kế các chương trình đòi – more centrialised.

Đó những lý do khiến châu Phi, đặc biệt các nước ở sub-Sahara vẫn nghèo đói như ngày nay.

Thông tin thêm mời các bạn đọc thêm cuốn: The looting machine (Tom Burgis), Taxing Africa (Mick Moore), và Asia-Africa Development Divergence: A question of intent (David Henley).

– Ngọc Thảo –

  • Tải app VietJack. Xem lời giải nhanh hơn!

Câu 1. Nguyên nhân chính làm cho hoang mạc, bán hoang mạc và xa van là cảnh quan phổ biến ở châu Phi là do

Quảng cáo

A. Địa hình cao

B. Khí hậu khô nóng.

C. Hình dạng khối lớn

D. Các dòng biển lạnh chạy ven bờ.

Hiển thị đáp án

Đáp án: B

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản.

Câu 2. Tài nguyên nào sau đây hiện đang bị khai thác mạnh ở châu Phi?

A. Khoáng sản và thủy sản

B. Khoáng sản và rừng

C. Rừng và thủy sản.

D. Đất và thủy sản.

Quảng cáo

Hiển thị đáp án

Đáp án: B

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản.

Câu 3. Đất đai ở ven các hoang mạc, bán hoang mạc ở châu Phi, nhiều nơi bị hoang mạc hóa là do

A. Khí hậu khô hạn.

B. Quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh.

C. Rừng bị khai phá quá mức.

D. Quá trình xâm thực diễn ra mạnh mẽ.

Hiển thị đáp án

Đáp án: C

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản

Câu 4. Để phát triển nông nghiệp, giải pháp cấp bách đối với đa số các quốc gia ở châu Phi là

A. Mở rộng mô hình sản xuất quảng canh.

B. Khai hoang để mở rộng diện tích đất trồng trọt.

C. Tạo ra các giống cây có thể chịu được khô hạn.

D. Áp dụng các biện pháp thủy lợi để hạn chế khô hạn.

Hiển thị đáp án

Đáp án: D

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản.

Câu 5. Việc khai thác khoáng sản ở châu Phi đã

A. Mang lại lợi nhuận cho các nước có tài nguyên.

B. Mang lại lợi nhuận cao cho người lao động.

C. Mang lại lợi nhuận cao cho các công ty tư bản nước ngoài.

D. Mang lại lợi nhuận cho một nhóm người lao động.

Hiển thị đáp án

Đáp án: C

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản.

Quảng cáo

Câu 6. Việc khai thác khoáng sản ở châu Phi đã

A. Nhanh chóng tàn phá môi trường.

B. Làm tăng diện tích đất trồng trọt.

C. Giữ được nguồn nước ngầm.

D. Thúc đẩy nhanh quá trình phong hóa đất.

Hiển thị đáp án

Đáp án: A

Giải thích : Mục I, SGK/20 địa lí 11 cơ bản.

Câu 7. Dân số châu Phi tăng rất nhanh là do

A. Tỉ suất tử thô rất thấp

B. Quy mô dân số đông nhất thế giới

C. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên cao

D. Tỉ suất gia tăng cơ giới lớn

Hiển thị đáp án

Đáp án: C

Giải thích : Mục II, SGK/21 địa lí 12 cơ bản.

Câu 8. Những thách thức lớn đối với châu Phi hiện nay là

A. Cạn kiệt tài nguyên , thiếu lực lượng lao động

B. Già hóa dân số, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên thấp

C. Trình độ dân chí thấp, đói nghèo, bệnh tật, xung đột

D. Các nước cắt giảm viện trợ, thiếu lực lượng lao động

Hiển thị đáp án

Đáp án: C

Giải thích : Mục II, SGK/21 địa lí 12 cơ bản

Câu 9. Một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phá triển của châu Phi là

A. Không có tài nguyên khoáng sản

B. Hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân

C. Dân số già, số lượng lao động ít

D. Tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác nhiều.

Hiển thị đáp án

Đáp án: B

Giải thích : Mục III, SGK/22 địa lí 12 cơ bản.

Câu 10. Cho bảng số liệu:

Tuổi thọ trung bình của các châu lục trên thế giới năm 2010 và năm 2014

(Đơn vị: tuổi)

Nhận xét nào sau đây đúng với bảng số liệu trên?

A. Dân số thế giới có tuổi thọ trung bình không biến động

B. Dân số châu Phi có tuổi thọ trung bình thấp nhất thế giới

C. Tuổi họ trung bình của châu Phi tăng chậm hơn châu Âu

D. Dân số tuổi thọ trung bình của các châu lục có tuổi thọ trung bình là như nhau

Hiển thị đáp án

Đáp án: B

Giải thích : Qua bảng số liệu, rút ra những nhận xét sau:

- Tuổi thọ của các châu lục đều có sự biến động, nhìn chung tất cả đều tăng.

- Châu Phi vẫn là châu lục có tuổi thọ trung bình thấp nhất, châu Âu cao nhất.

- Tuổi thọ trung bình của châu Phi là nhanh nhất (tăng 4 tuổi), tiếp đến là châu Âu (2 tuổi), các châu lục còn lại đều tăng 1 tuổi.

Câu 11. Cho bảng số liệu:

Tốc độ tăng trưởng GDP của một số nước châu Phi qua các năm

(Đơn vị: %)

Nhận xét nào sau đây đúng với bảng số liệu trên?

A. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước khá ổn định.

B. Không có sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các nước.

C. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước trên nhìn chung không ổn định.

D. Trong số các nước, An-giê-ri luôn có tốc độ tăng trưởng thấp nhất.

Hiển thị đáp án

Đáp án: C

Giải thích : Qua bảng số liệu trên, rút ra nhận xét:

- Nhìn chung, tất cả các nước đều có tốc độ tăng trưởng không ổn định.

- Công-gô giảm nhanh nhất (4,8%), Nam Phi giảm 1,2% và An-giê-ri tăng nhẹ (tăng 0,2%).

Câu 12. Cho bảng số liệu

(Đơn vị: %)

Biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện dân số các châu lục trên thế giới năm 2005 và năm 2014 là

A. Biểu đồ cột.

B. Biểu dồ đường.

C. Biểu đồ kết hợp (cột và đường).

D. Biểu đồ tròn.

Hiển thị đáp án

Đáp án: A

Giải thích : Căn cứ vào bảng số liệu và yêu cầu đề bài, ta thấy biểu đồ cột (cụ thể là cột nhóm) là biểu đồ thích hợp nhất để thể hiện dân số các châu lục trên thế giới năm 2005 và năm 2014.

Xem thêm câu hỏi trắc nghiệm Địa Lí 11 có đáp án, hay khác:

Giới thiệu kênh Youtube VietJack

  • Hỏi bài tập trên ứng dụng, thầy cô VietJack trả lời miễn phí!

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: fb.com/groups/hoctap2k5/

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.